Danh mục
Liên kết website

Người Họ Đào hoạt động khoa học tự nhiên và xã hội

Submit Thread to Facebook Submit Thread to Twitter Submit Thread to Google
Một số nhà hoạt động Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội

 

1.     GS. ĐÀO VĂN TIẾN

 

Giải thưởng Hồ Chí Minh cá nhân năm 1996

 

Giải thưởng Hồ Chí Minh tập thể về tập Atlas Việt Nam năm 2005.

Ông Đào Văn Tiến sinh ngày 23 tháng 8 năm 1920 trong một gia đình trí thức có truyền thống nho học ở thành phố Nam Định. Thân sinh ông là một nhà nho cẩn trọng trong việc gìn giữ nền nếp, gia phong và rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cháu. Ngay từ nhỏ ông đã được thừa hưởng những đức tính quý giá của người cha và sớm trở thành một sinh viên có ý chí và nghị lực học hành, nghiên cứu. Năm 1943, ngay từ khi còn là sinh viên ông đã bắt đầu tham gia nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của GS. B. Noyer và Bonnet phụ trách phòng thí nghiệm sinh học và ý học thực nghiệm về dược lý của một vài sản phẩm sinh học. Năm 1944, ông đã tốt nghiệp xuất sắc Đại học Khoa học Đông Dương và đạt học vị Thạc sỹ chuyên ngành Động vật học. Ông trở thành trợ giảng và phụ trách phòng thí nghiệm, trông coi sinh viên thực tập. Ngay năm sau đó, 1945 ông đã có cuốn sách đầu tay nổi tiếng “Danh từ khoa học Vạn vật học” ông chuyển hóa các từ vạn vật học từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Đây là công trình rất có ý nghĩa, giúp cho công tác giảng dạy đại học trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Cuốn sách đã được GS. Hoàng Xuân Hãn đề tựa:

 

“Tác giả là Đào Văn Tiến, là một bạn trong đám thanh niên tốt nghiệp đầu tiên của Đại học Hà Nội về môn Vạn vật học”…

 

Phép đặt danh từ, ông đã giảng rõ trong lời tựa riêng. Những danh từ đặt ra đây có thể thông dụng được.

 

Trong lúc gấp, cần dạy và phổ thông các môn khoa học bằng tiếng ta, tập Danh từ khoa học này, góp với tập trước, sẽ giải quyết tạm được vấn đề danh từ về các khoa học đại cương.

 

“Các việc thiết thực, làm trong bóng tối của các bạn thanh niên như các bạn Tiến, Chiển, Căn, Quán, Quảng, Thiền đều là xứng đáng với một phần nhiệm vụ của thanh niên phải đoàn kết mà kiến thiết nước Việt Nam độc lập”.

Mai Hồ Trung thu Ất Dậu 1945

HOÀNG XUÂN HÃN.

 

 

Trong thời gian này, ông còn tham gia giảng dạy ở trường tư thục Phan Chu Trinh do GS. Đặng Thai Mai sáng lập, tổ chức theo chương trình cải cách, thu hút những thanh niên tiến bộ và có cảm tình với cách mạng.

Cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông rời mái trường khoác áo lính lên chiến khu Việt Bắc phục vụ tại cục Quân y. Năm 1949 trường Quân Y sĩ Việt Nam thành lập do GS. Bác sĩ Đinh Văn Thắng làm hiệu trưởng, sau đó là GS. Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ. Cùng tham gia giảng dạy còn có các giảng viên Đỗ Xuân Hợp, Phạm Gia Triệu, Đặng Đình Huấn, Đào Xuân Trà và Nguyễn Thế Khánh. Ông được phân công giảng dạy các môn sinh vật và xây dựng phòng thí nghiệm sinh học. Nhiều cán bộ giảng dạy sau này thành GS.Y học mang hàm cấp tướng: GS. Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp, GS. Thiếu tướng Phạm Gia Triệu. Sinh viên ra trường trở thành cán bộ quân y phục vụ trong quân đội. Trường Quân Y sĩ Việt Nam là tiền thân của Học viện Quân Y ngày nay và hiệu trưởng đầu tiên là GS. Thiếu tượng Lê Thế Trung, chính ông là sinh viên khóa đầu tiên của trường Quân Y sĩ Việt Nam tại Việt Bắc.

Theo yêu cầu phát triển về khoa học và giáo dục, Bộ Giáo dục ra quyết định thành lập trường Khoa học cơ bản và Sư phạm cao cấp ở Tuyên Quang, nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và giáo viên tương lai cho đất nước. Ông lại được điều động về đây xây dựng trường và tham gia giảng dạy. Cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, để đảm bảo an toàn cho công tác đào tạo, năm 1951 Bộ Giáo dục đã được phép chuyển trường sang Nam Ninh Trung Quốc. Trong thời gian này ông đã cùng các đồng nghiệp như Ngụy Như Kontum, Dương Trọng Bái, Nguyễn Tiến Liễu, Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Chiển, Lê Văn Thiêm, Lê Khả Kế, Nguyễn Thạc Cát, Hoàng Ngọc Cang… được cử sang Nam Ninh, Trung Quốc, xây dựng Khu học xá cho trường Khoa học cơ bản  và Sư phạm cao cấp trung ương. Ông cùng GS. Lê Khả Kế lên lớp các giáo trình sinh vật học. Sinh học là những học sinh được chọn lọc từ các tỉnh trong nước cử sang đây đào tạo. Đây chính là những hạt giống tốt gieo mầm nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập sau những đêm dài nô lệ. Sau khi tốt nghiệp họ trở về và tỏa đi phục vụ khắp mọi miền đất nước. Thành công ấy chính là công đầu của các thầy dạy ở Khu học xá Trung ương, trong đó có phần đóng góp của GS. Đào Văn Tiến.

Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp Định Genève kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, hòa bình lập lại. Hà Nội được giải phóng, trường Đại học Khoa học Sư phạm được thành lập. Ông trở về cùng các ông Dương Hữu Thời, Nguyễn Đình Ngỗi, Trương Cam Bảo giảng dạy các môn vạn vật học ở khoa Tự nhiên. Sau cuộc rút lui của thực dân Pháp khỏi Hà Nội, trường sở bộn bề, phòng thí nghiệm ngổn ngang, thiếu thốn đủ thứ. Sinh viên từ chiến khu trở về và những học sinh tốt nghiệp phổ thông trong các trường bị tạm chiếm được tập trung tiếp tục học tập. Thầy trò cùng ra tay dọn dẹp, khắc phục khó khăn tiếp tục dạy và học. Sau hai năm đã có 3 khóa sinh viên ra trường, mà sau này vẫn được gọi là các khóa 01, 02 và 03. Bởi vì đến niên khóa 1956 – 1957 Bộ Giáo dục quyết định tách trường Đại học Khoa học Sư phạm thành hai trường: Đại học Tổng hợp Hà Nội và Sư phạm Hà Nội và các trường này bắt đầu tính từ khóa 1. Khoa Tự nhiên được chia thành các khoa: Toán, Lý, Hóa, và Sinh vật (sau này gọi là khoa Sinh học). Ông Đào Văn Tiến là Phó Chủ nhiệm rồi sau là Chủ nhiệm khoa Sinh học.

Với kiến thức uyên bác, trong giảng dạy ông luôn là nhà sư phạm mẫu mực, người thầy giàu kinh nghiệm hết lòng với sinh viên. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước để đảm bảo an toàn, ông vác ba lô cùng sinh viên lên vùng rừng núi Đại Từ, Thái Nguyên dựng tạm lớp học, phòng thí nghiệm bằng tre nứa lá và tiếp tục giảng dạy. Một tiết học của ông có thể tương đương 2-3 tiết của người khác giảng vì lượng thông tin dồn nén, sinh viên say mê ghi chép đến mỏi rã tay. Nhưng bài giảng của ông lại rất sinh động và đưa ra nhiều ví dụ hấp dẫn lôi cuốn sinh viên luôn chú ý lắng nghe và dễ tiếp thu. Khi hỏi thì ông thường nêu các câu hỏi đòi hỏi sinh viên phải có thực tế và óc suy luận để nắm vững bài. Trong công tác giảng dạy, ông luôn tâm đắc với lời nói của GS. Bác sĩ Hồ Đắc Di: “Ở đại học không chỉ dạy nghề, mà còn phải dạy người”. Dạy nghề là truyền đạt kiến thức khoa học, làm được điều đó đã khó. Dạy người lại còn khó hơn rất nhiều. Theo ông, dạy người là dạy về nhân cách con người, đặc biệt là con người khoa học, dạy đức tính cần cù, say mê, lòng trung thực trong khoa học. Có làm được điều đó mới làm tròn trách nhiệm của người thầy dạy đại học. Chính vì thế, ông lưu tâm rất nhiều đến tính khoa học trong đào tạo. Với mong muốn xây dựng đội ngũ khoa học từ lớp thanh niên, ông viết cuốn sách: “Khoa học hóa cách suy nghĩ, làm việc, học tập” Nhà xuất bản Thanh niên năm 1982 với lời đề: “Tặng các bạn thanh niên, niềm hy vọng của đất nước”. Cuốn sách có thể coi là cẩm nang giúp ích cho thanh niên trong học tập và công tác.

Trong nghiên cứu, ông là nhà khoa học chuyên cần, nghiêm túc và trung thực làm gương cho cán bộ trẻ noi theo. Những lần đưa sinh viên đi thực tập thiên nhiên, hay đi nghiên cứu, ông thường cùng đồng cam cộng khổ. Nhiều câu chuyện ông kể các chuyến đi đều gây những ấn tượng tốt đẹp mà sau này còn được truyền tụng qua nhiều thế hệ sinh viên. Đến nay sinh viên các khóa đầu tiên tuổi đã trên dưới 70 vẫn còn ghi nhớ.

Gần nửa thế kỷ qua, ông đã tham gia đào tạo hàng ngàn sinh viên hết khóa này đến khóa khác. Ông đã trực tiếp hướng dẫn và bảo vệ thành công nhiều luận án chuyên ngành động vật học. Trong số học trò của ông nhiều người đã trở thành Giáo sư, Tiến sĩ giảng dạy ở các trường Đại học, Trung học và Phổ thông trong nước, phụ trách các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học ở trung ương cũng như các địa phương: GS. Võ Quý, GS. Lê Quang Long. GS. Nguyễn Đình Khoa, GS. Mai Đình Yên, GS. Hoàng Đức Nhuận, GS. Đặng Huy Huỳnh, GS. Cao Văn Sung…

Năm 1962, ông cùng GS. Đặng Văn Ngữ được Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) giao cho chương trình “Điều tra cơ bản khu hệ động vật và ký sinh trùng miền Bắc Việt Nam”. Ông đã tập hợp đội ngũ cán bộ trẻ mới tốt nghiệp các  khóa đầu tiên đang công tác ở các trường: Đại học Tổng hợp Hà Nội, Y Dược khoa, Nông Lâm Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh, Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc và các tỉnh khu Bốn cũ. Đây được coi là công trình nghiên cứu khoa học về Khu hệ động vật Việt Nam do chính cán bộ khoa học Việt Nam thực hiện. Chính từ kết quả này ông đã phát hiện và lập hồ sơ khoa học về nhiều loài thú mới ở Việt Nam. Từ đó ông tập hợp thêm những công trình nghiên cứu sau này, năm 1985 ông đã viết cuốn: “Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam”. Cuốn sách là cuốn “Bước đầu xác định các loài thú ở miền Nam Việt Nam” của Van Pennen, năm 1969 đã được giới khoa học thừa nhận như là hai cuốn sách cơ bản nhất trong hệ thống các công trình nghiên cứu khu hệ thú Việt Nam cũng như khu hệ thú Đông Nam Á.

 

Không chỉ viết các giáo trình cơ sở cho ngành Sinh học và các công trình nghiên cứu chuyên ngành, GS Đào Văn Tiến còn viết nhiều sách báo phổ cập tri thức chung như các tập “Hỏi đáp về động vật”. Ông là cộng tác viên cuỷa nhiều tờ báo lớn, viết các bài báo về thiên nhiên, môi trường. Bằng lối viết sinh động, pha chút hài hước, tác giả Đào Văn Tiến từ lâu đã trở nên thân thuộc với đông đảo độc giả trên nhiều tờ báo. Ông như một “pho từ điển sống về thế giới động vật”.

 

Nhà báo Hàm Châu cho biết: Nhà văn Đoàn Giỏi, tác giả của “Đất rừng phương Nam”“Tê giác trong vườn xanh” đã lấy làm bực dọc khi đứa cháu mình hỏi hàng trăm câu hỏi về các loài muông thú. Nhà văn tâm sự: “Buồn thay, tôi chỉ là một nhà văn. Giá như tôi có được một phần nhỏ kiến thức của ông Đào Văn Tiến – nhà động vật học lỗi lạc đầu tiên từ thời Pháp thuộc – thì con bé nó sẽ mê và phục ông nó phải biết”. Nhiều người cũng vẫn nhầm tưởng rằng “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài được xây dựng chỉ bằng kinh nghiệm quan sát trực tiếp của tác giả về thế giới loài vật. Thật ra, để có được những trang viết sinh động như trong “Dế mèn phiêu lưu ký”, nhà văn phải đọc những cuốn sách khoa học để nắm chắc tập tính của các loài vật. Nói chuyện với các cây bút trẻ, nhà văn Tô Hoài đã có lần đưa ra một lời khuyên: “Kinh nghiệm viết văn của tôi về động vật là hãy đọc những bài viết của giáo sư Đào Văn Tiến”.

Năm 1985, ông đề xuất cần xây dựng ngành Tập tính học ở Việt Nam. Môn khoa học này không chỉ dừng lại ở nghiên cứu về tập tính các loài động vật phục vụ ngành chăn nuôi mà còn phải nghiên cứu cả tập tính của con người như một loài động vật cao cấp. Không nên thần thánh hóa con người, quá nhấn mạnh yếu tố xã hội của con người rồi đi đến xem nhẹ những yếu tố bản năng và tập tính mà thiên nhiên đã ấn định cho nó. Ông cho rằng cái tính ngỗ ngượctham lam của con người chín là một tập tính của động vật hoang dã còn tồn lưu đã gây nhiều tại họa cho chính con người. Nếu Tập tính học được xây dựng và nghiên cứu một cách hoàn toàn nghiêm túc biết đâu chúng ta đã có thêm phương án ngăn chặn hay ít ra cũng làm giảm bớt các loại trọng tội hình sự, thậm chí cả tội tham nhũng của nhiều quan chức chính quyền.

Ngay từ những năm 70, khi chúng ta đang còn lo chống Mỹ, ông đã dự báo về những thảm họa của sự khủng hoảng sinh thái, môi trường trên quy mô khu vực và quy mô hành tinh. Tháng 4 năm 1974 ông cùng GS. Võ Quý đã có báo cáo: “Một vấn đề lớn về môi trường đặt ra ở miền Nam Việt Nam” tại Hội thảo Quốc tế về Bảo vệ Môi trường tổ chức tại Herceg Novi. Ông đã viết hàng loạt bài báo về môi trường: Cuộc khủng hoảng sinh thái có xảy ra hay không? 1980; Tuổi trẻ và Môi trường, 1982; Về một kế hoạch phát triển giáo dục môi trường ở Việt Nam, 1982; Thực hiện cho được giáo dục môi trường ngoài nhà trường, 1983; Con người và Thiên nhiên, 1984…

 

Năm 1984, trong bài Sinh học và đạo lý ông đã nói đến kỹ thuật sinh sản vô tính (cloning) ông viết: “Khoa học đã tìm cách cấy tế bào phôi vào một tế bào trứng đã mất nhân rồi cấy vào dạ con chuột, số con đẻ ra đa phần giống chuột cho phôi. Trứng nhận nhân vẫn phần nào ảnh hưởng tới tế bào phải ghép. Năm 1986, hai nhà khoa học Anh là Hall và Stillman đã thí nghiệm thành công từ một phôi độc nhất in-vitro, các ông đã tạo được nhiều phôi y hệt phôi gốc. Phát minh này sẽ ảnh hưởng lớn tới xã hội. Làm thay đổi vốn gen của tế bào mầm sẽ cho phép tạo con người hoàn hảo về di truyền, tuyệt hảo về sức khỏe. Viễn tưởng hay không viễn tưởng?

 

 

Ngày nay khoa học cũng như đạo đức đều là thể chế xã hội, cùng tiến hóa với xã hội và cũng suy tàn cùng xã hội. Hiện nay khoa học tách khỏi đạo đức sẽ dẫn tới suy vong, mâu thuẫn với cứu cánh của chính mình. Mặt khác, khoa học và đạo đức lại gắn chặt với xã hội. Và để đảm bảo cho sự sinh tồn của chính mình, xã hội phải xây dựng qui chế về đạo đức khoa học. Và nhà khoa học, nói riêng nhà sinh học phải thấy rõ sự thống nhất tri thức khoa học, giá trị đạo đức và mục tiêu xã hội”.

Ba năm sau, nghiên cứu nhân bản vô tính đã cho ra đời con cừu Dolly. Qua bài này càng thấy rõ tầm cao vốn kiến thức của ông, ông đã dự báo chính xác bước đi của khoa học. Nhưng đồng thời cũng cảnh báo về quan điểm khoa học duy khoa học (scientism) sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.

Nhiều nhà khoa học và nhà giáo vốn là học trò một thời của ông đã thừa nhận sự ảnh hưởng đức tính trung thực, thẳng thắn trong khoa học của GS Đào Văn Tiến. Ông có nguyện vọng gia nhập Đảng, đội quan xung kích của giai cấp và dân tộc mà ông đã tự nguyện gắn bó từ năm 1946. Tuy nhiên, không vì thế mà ông chấp nhận cách suy nghĩ nông cạn và lối phấn đấu cơ hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo cơ quan theo chủ nghĩa phong trào. Có một dạo, cơ quan phát động phong trào ứng dụng khoa học cơ bản vào đời sống, nhưng thực chất chỉ là tìm cách cải thiện đời sống. Ông thấy những biện pháp đó không xứng đáng với tầm vóc của một cơ quan khoa học đào tạo và nghiên cứu cao cấp như Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hơn nữa, chủ trương này dễ trở thành bình phong cho sự ngại khó, ngại khổ trong công việc nghiên cứu và giảng dạy của các ông thầy. Giáo sư Tiến muốn có một chiến lược đúng tầm và những biện pháp có tính vĩ mô. Một lần ông phát biểu thẳng chính kiến: Nếu muốn có tiền nhanh nhất chỉ cần phát cho mỗi thầy một cái bơm xe đạp, đứng vỉa hè vài ngày là có tiền ngay (lúc đó giá bơm một lốp xe đạp là 2 xu). Cũng chính từ những phản ứng tương tự như vậy mà cho tới khi qua đời, GS Đào Văn Tiến vẫn chưa được kết nạp Đảng. Tuy nhiên ông vẫn âm thầm giảng dạy, nghiên cứu cống hiến nhiều công trình khoa học có giá trị cho đất nước.

Ông Đào Văn Tiến xứng đáng là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên  xây dựng nền móng cho ngành  Sinh học Việt Nam.

 

Ông còn là giáo sư thỉnh giảng của Đại học Paris VII, Cao đẳng Sư phạm Phnôm-pênh, Cao đẳng Sư phạm Tananarivơ (Madagaxca), Chủ tịch danh dự Hội Động vật học Việt Nam, Thành viên địa phương của Hội Khỉ hầu Quốc tế (IPPL), Ủy viên Hội đồng nghiên cứu thú quốc tế (ITC), Hội viên danh dự của Hội nghiên cứu thú toàn Liên Xô. Theo GS. VS. Nguyễn Văn Đạo, những cuốn giáo trình, sách chuyên khảo và 94 công trình khoa học của GS Đào Việt Tiến “Không chỉ đóng góp cho khoa học sinh học Việt Nam mà còn là tài sản chung của khoa sinh học thế giới”.

Về phần gia đình, vợ ông là bà Nguyễn Thị Hồng – kỹ sư Hóa, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Sinh Hóa của Viện Công nghiệp thực phẩm, người đã góp một phần đáng kể vào thành công của ông. Ông bà có hai người con trai đã thành đạt. Con cả, Tiến sĩ Đào Tiến Khoa, cán bộ Viện Năng lượng nguyên tử và con trai thứ hai, Họa sỹ Đào Tiến Hải, họa sỹ chủ công của Xưởng Phim truyện Hà Nội.

Với trình độ và công lao đóng góp của mình, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen, danh hiệu cao quý và các loại huân chương.

Danh hiệu:

Nhà nước phong Giáo sư năm 1980.

Nhà giáo Nhân dân năm 1988.

Khen thưởng:

- Năm 1958: Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.

- Năm 1965: Huân chương Kháng chiến hạng Ba.

- Năm 1983: Huân chương Lao động hạng Ba.

- Năm 1985: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.

- Năm 1996: Giải thưởng Hồ Chí Minh (giải thưởng cá nhân).

          - Năm 2005: Giải thưởng Hồ Chí Minh (giải thưởng tập thể về tập Atlas Việt Nam).

 

PGS. HÀ ĐÌNH ĐỨC

 

(Học trò của GS. Đào Văn Tiến)

 

 

 

2. GIÁO SƯ KINH TẾ HỌC ĐÀO NGUYÊN CÁT 

- Sinh ngày 12/12/1927

- Quê quán: Xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng

- Trú quán: Số 8 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Là cán bộ tham gia cách mạng từ tiền khởi nghĩa tháng 8/1945, khi đang học tú tài ở Hà Nội.

Ông vào Đảng cộng sản Đông Dương tại huyện Vĩnh Bảo đầu năm 1947 và hoạt động tại huyện đến năm 1948, sau đó đi học văn hóa và hoạt động tại ban Thanh vận Liên khu III. Năm 1950, Đảng điều động lên Việt Bắc: 1950-1954 được đào tại lý luận tại Trung Quốc và về công tác tại Ban Tuyên huấn, trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Ban Chỉnh Đảng Trung ương, Ủy viên tiểu ban Huấn học Trung ương. Năm 1989, được Nhà nước đặc cách công nhận là Giáo sư (Giáo sư cấp II) bộ môn Kinh tế chính trị.

Ông đã từng giữ các chức vụ trong Ban tư tưởng văn hóa Trung ương như: Tổng biên tập nội san Tuyên huấn (1958-1961), Tổng biên tập Tạp chí Tuyên huấn (1961-1972). 1961-1964 đi học ở Liên Xô. 1972-1975 Tổng biên tập Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác – Lênin, Phó Vụ trưởng Vụ huấn học, Vụ trưởng Vụ biên soạn sách giáo khoa Mác – Lênin; 1978-1982 phụ trách trường Đảng cao cấp tại chức Trung ương, Phó chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước về chống tiêu cực, trưởng ban tổng kết xây dựng Đảng về chính trị, thành viên ban chuẩn bị cương lĩnh đại hội lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau khi nghỉ hưu (1992) GS. Đào Nguyên Cát đã tập trung trí tuệ và công sức cho sự nghiệp báo chí và giáo dục vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ông là thành viên sáng lập và là Chủ tịch Hội đồng quản trị đầu tiên của trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội (từ 6/2006 là Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội); Phó chủ tịch Hội khoa học kinh tế Việt Nam, Tổng biên tập đầu tiên của Thời báo Kinh tế Việt Nam. Kể từ khi phát hành số báo đầu tiên (9/1991) đến năm 2006, Thời báo Kinh tế Việt Nam đã trở thành tờ báo lớn, có uy tín trong cả nước. Trong thư gửi Giáo sư Đào Nguyên Cát(2), nhân Thời báo Kinh tế Việt Nam cùng các ấn phẩm khác như Tư vấn Tiêu và Dùng, Vietnam Economic Time, các tờ Guide bằng tiếng Anh, Nhật, Trung…, Báo điện tử trở thành một tổ hợp kinh tế lớn, tự chủ về tài chính, phục vụ có hiệu quả kinh tế đất nước, là bạn đồng hành của các doanh nhân, doanh nghiệp”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá GS. Đào Nguyên Cát là “Vị tướng trưởng lão làng báo… người sáng lập và chỉ đạo Thời báo Kinh tế Việt Nam…”. Ông cũng đã được Nhà xuất bản và tiểu sử quốc tế của Trung tâm tiểu sử quốc tế Basasô Whos Who (Mỹ) in trong sách này và tặng bằng danh dự.

Cùng với tư chất “Trung, Minh, Trí, Dũng” trong việc nước, GS. Đào Nguyên Cát là người sống nghĩa tình, khiêm tốn chan hòa với bạn bè, cộng sự, có trách nhiệm với gia đình, quan tâm giúp đỡ anh em họ hàng dòng tộc.

GS. Đào Nguyên Cát có 4 người con, trong đó: 2 người làm giáo viên Đại học Bách khoa Hà Nội (TS. Năng lượng Đào Kim Hoa và PGS.TS Luyện kim Đào Hồng Bách), 1 người là bác sĩ làm việc tại Cộng hòa Pháp, (Đào Kim Thu) và 1 người là cử nhân (Đào Hồng Hà) công tác tại hãng Hàng không Việt Nam.

GS. Đào Nguyên Cát là một trong những người tiêu biểu, niềm tự hào của Họ Đào Nguyên trong thời đại Hồ Chí Minh ở xã Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng – nơi “địa linh nhân kiệt”.

 

Đại tá – Tiến sĩ ĐÀO NGUYÊN VỊNH

 

 
 
 

 

(2) Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 3/11/2006

[Trở về] Các tin tức khác
Hội thảo khoa học về anh hùng, liệt sĩ Đào Phúc Lộc
Ông Đào Trọng Hằng: Trọn đời sống và làm theo gương Bác
Lễ kỷ niệm 445 năm sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ tại Bình Định
Trưởng lão trong làng báo
Đào Chí Trung: Người con út hy sinh lúc mới vừa 17 tuổi,
Ông Đào Văn Tần (con trai cả của ông Đào Văn Quyện)
Dòng tộc họ Đào trên vùng quê Phú Thứ
Thiếu tướng Đào Trọng Hùng: Nhiệt huyết tuổi 2O qua bức thư thời chiến
Nhà thờ Họ Đào ở xã Thiện Phiến, Tiên Lữ, Hưng Yên
Nhà báo Đào Tùng và những khao khát về sự nghiệp thông tấn
Video hoạt động
Liên kết website
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH THỨC CỦA HỘI ĐỒNG LIÊN LẠC HỌ ĐÀO VIỆT NAM 
Chủ tịch danh dự :  Đại tướng ĐÀO NGUYỄN QUYẾT 

Chủ tịch:  Giáo sư ĐÀO NGUYÊN CÁT
Trưởng Ban biên tập website: Thạc sĩ, Nhà báo ĐÀO XUÂN HƯNG

Hotline: 0946 585 989   -  Email: hodaovietnam@gmail.com  -  Website: www.hodaovietnam.com
Copyright © 2010 Họ Đào Việt Nam
Thiết kế và phát triển bởi Ovem!Software